LIÊN HỆ TRỰC TUYẾN

Hỗ trợ yahoo
Hỗ trợ qua Yahoo

Hỗ trợ yahoo
Hỗ trợ qua Yahoo


Hỗ trợ qua Skype

Hỗ trợ qua MSN

VIDEO CLIPS

Làm sạch khuôn nhựa bằng Zclean

Hướng dẫn cách pha polime trợ keo tụ và vắt bùn

Polyme siêu trương dầu

Polyme siêu trương nước
SỐ NGƯỜI TRUY CẬP

Số người Online : 2

Trong ngày : 11

Tổng số lượt truy cập : 183647

TIN TỨC


KEO TRÊN CƠ SỞ POLIME NHIỆT RẮN
Poli este khong noKeo trên cơ sở polime nhiệt rắn có thể có một thành phần hoặc nhiều thành phần. Keo một thành phần được sản xuất tại nhà máy dưới dạng thành phẩm. Còn keo nhiều thành phần chỉ pha chế tại chỗ trước khi sử dụng vì nếu đã pha trộn thì không thể bảo quản được lâu.
   Thành phần chính của keo là polime nhiệt rắn, chứa những nhóm định chức hoặc là những monome, dưới tác dụng của chất súc tác, chất đóng rắn, nhiệt độ hoặc tác nhân nào đó, sẽ chuyển thành sản phẩm không nóng chảy, không hòa tan, có tính chịu nhiệt tốt và khả năng kết dính cao.
   Quá trình đóng rắn thường kèm theo hiện tượng co ngót và nhựa đã đóng rắn thường giòn. Co ngót làm xuất hiện ứng suất nội, kết hợp với tính giòn làm độ bền của mối dán giảm.
   Để giảm hiện tượng co ngót, người ta thường thêm các chất độn vô cơ, và tính giòn trong nhiều trường hợp được khắc phục bằng cách phối hợp với polime nhiệt dẻo hoặc elastome.
   Keo nhiệt rắn thường là hệ 2 thành phần : nhựa và chất chất đóng rắn, được pha trộn trước khi dùng. Nhờ dung môi và tạo nên hỗn hợp có độ nhớt và phải để <quét> lên mối dán.
   1.  Keo phenol-Formaldehit
   Nhựa phenol formaldehit là thành phần cơ bản của nhiều loại keo, kết hợp được nhiều tính năng quý và có ứng dụng rộng rãi để dán kim loại, gỗ,chất dẻo và nhiều vật liệu khác. Sau khi đóng rắn, nhưng rất giòn nên thường phải biến tính. Nhựa không biến tính dùng để dán gỗ, chất dẻo bọt và vật liệu xốp.
   Nhựa phenol-Formaldehit là sản phẩm đa tụ giữa phenol và formaldehit. Tùy tỷ lệ các thành phẩm và điều kiện đa tụ, nhựa có tính chất khác nhau. Chẳng hạn khi dư formaldehit và môi trường kiềm tạo thành nhựa resol, nhưng khi dư phenol là môi trường axit thành nhựa novolac.
   Nhờ những nhóm metilol, nhựa (resol) có thể đa tụ tiếp, tạo thành cấu trúc không gian (resit) nhờ súc tác axit và nhiệt độ. Ngược lại, nhựa novolac không chứa nhóm metilol, nên chỉ có thể chuyển thành trạng thái không nóng chảy, không hòa tan khi xủ lý với formaldehit, hexametilentetramin ở nhiệt độ cao.
   Trong điều kiện thường, nhựa novolac và resol là chất rắn trong suốt, chuyển thành trạng thái chảy nhớt ở 60-1000C dễ tan trong nhiều dung môi hữu cơ.
   Nhựa ở trạng thái resit không nóng chảy không hòa tan, có độ bền nhiệt khá cao,chỉ bị phân hủy ở nhiệt độ trên 2800C.
   Để pha chế keo, người ta thường dùng nhựa phenol-formaldehit loại resol có khối lượng phân tử 700-1000, hòa tan trong nước hoặc rượu.
   Người ta có thể thay phenol bằng những đồng đẳng như cresol hoặc phenol đa chức formaldehit thay thế bằng những aldehit khác như furfurol.
   Thí dụ về sản xuất nhựa phenol-formaldehit kiểu resol :
   Cho phenol tinh thể (100 phần khối lượng) vào thiết bị phản ứng có máy khuấy và sinh hàn hồi lưu, cùng với NaOH (7 phần khối lượng) và nước (11 phần khối lượng). Khuấy đều và đun nhẹ ở 40-450C, cho tới khi tan hoàn toàn. Sau đó, tăng nhiệt độ lên 70-800C và thêm dần formaldehit (150 phần khối lượng) trong thời gian 1,0-1,5 giờ. Duy trì nhiệt độ ở 900C cho tới khi hỗn hợp phản ứng có độ nhớt 1600C FE. Để lạnh, đóng vào bao bì để dùng.
   Nhựa phenol—Formaldehit biến tính khắc phục được tính giòn của keo và mở rộng, ứng dụng sang các lĩnh vực khác, đặc biệt là các kết cấu chịu lực. Trong nhiều trường hợp, người ta biến tính nhựa phenol—Formaldehit bằng cao su tổng hợp, polivinilaxetal hoặc poliamit.
   Do tương tác giữa nhự phenol—formaldehit và cao su tổng hợp (như cao su nitrit, cao su neopren), sẽ tạo thành sản phẩm đàn hồi, chịu nhiệt, có tính kết dính tốt, làm cơ sở cho keo phenol—cao su. Tuy cấu tạo của sản phẩm chưa giải thích được một cách rõ ràng, nhưng keo phenol—cao su, có thể đóng rắn bằng các chất đóng rắn thông thường của nhựa phenol—formaldehit cũng như các chất lưu hóa khác của cao su. Chúng được sử dụng nhiều để dán các tấm cách nhiệt, cách âm trong ô tô, máy bay, công trình xây dựng, dán da, các kết cấu bằng kim loại.
   Nhựa phenol-formaldehit loại resol phối hợp với polivinilbutiral (trong dung dịch nước) là loại keo có tính kết dính rất cao với kim loại và vật liệu phi kim loại, có lẽ vì chứa những nhóm hidroxit với số lượng tối ưu. Tăng tỷ lệ nhựa resol, tính chịu nhiệt của keo cao nhưng tính đàn hồi lại giảm. Keo phenpl—polivinilbutiral dán những tấm nhôm đồng, thép có thể chịu được gia công cơ học (khoan,tiện phay…) mà mối dán không bị phá hủy.
   Thay thế phenol bằng resorsin, người ta thu được nhựa resorsin—formaldehit để sản =xuất keo đóng rắn nhanh ở nhiệt độ thường khi có xúc tác axit hoặc kiềm. Nhờ khả năng phản ứng cao, resorsin rất dễ dàng tham gia quá trình đa tụ để tạo nhựa. Phương pháp tạo resorsin nhựa điển hình như sau :
   Đun nóng dung dịch resorsin trong nước ( có thêm một lượng nhỏ axit hoặc kiềm) lên 95-1000C. Sau đó khuấy và thêm formaldehit với lượng 0,5—0,7 mol trên 1 mol resorsin. Tiếp tục đun hồi lưu và làm bay hơi trong chân không. Đưa về pH = 7. Trước khi dán , thêm vào nhựa paraform làm chất đóng rắn.
   Keo resorin-formaldehit dùng để dán da, cao su, chất dẻo và nhiều vật liệu khác.
1.     Keo từ nhựa amin
   Keo từ nhựa amin là loại keo phổ biến nhất để dán đồ gỗ. Ưu điểm của ác loại keo này so với keo phenol là không mầu, bền với ánh sáng và ít độc. Tuy nhiên, keo amin kém bền với nước và độ bèn của mối dán không cao.
   Các loại keo amin chính là ure-formaldehit và melamin-formaldehit.
   Nhựa ure-formaldehit là sản phẩm ngưng tụ của ure và formaldehit. Bằng cách thay đổi tỷ lệ các chất tham gia phản ứng, xúc tác, các điều kiện phản ứng… người ta sẽ điều chỉnh được các tính chất của nhựa tùy thuộc mục đích sử dụng và chất lượng của màng keo.
   Chất đóng rắn cho keo thường là axit lactic, oxalic, muối amôn của axit mạnh. Tốc độ đóng rắn phụ thuộc vào môi trường. Khi pH = 5,6-6,0, keo rắn ở nhiệt độ cao, nhưng khi pH = 3—5, keo rắn ngay ở nhiệt độ thường.
   Khi đóng rắn, keo bị co ngót, gây lên ứng xuất nội, làm mối dán có thể bị nứt. Để loại trừ hiện tượng này người ta thêm vào công thức pha chế các chất độn (bột gỗ, tinh bột, các chất vô cơ…) chất hóa dẻo (rượu đa chức).
   Chẳng hạn để sản xuất keo dán gỗ ureformaldehit đóng rắn nóng và lạnh, người ta có thể làm như sau :
   Cho vào nồi phản ứng 266 phần khối lượng dung dịch formaldehit 40% và thêm dung dịch NaOH 40% với lượng vừa đủ để đưa pH tới 7,5 – 8,0. Sau đó thêm 75 phần ure đun nóng đến 800C trong 25-40 phút. Giữ ở nhiệt độ này trong 1 giờ, rồi thêm tiếp 25 phần ure nữa, tới pH = 6,3 – 6,5. Thêm 5 – 10 phần dung dịch NH4CL bão hòa để hạ pH xuống 4,5 6,0 và đun thêm 30 phút. Tiếp đó, bổ sung một lượng nhỏ kiềm, giữ ở 800C trong 30 phút.
   Làm lạnh xuống 700C và hút chân không để loại bỏ một phần nước (áp suất 110 – 60 mmHg). Nhựa thu được chứa 67 – 70% chất khô, dùng để pha chế keo.
   Người ta cũng có thể sấy phun nhựa này thành bộ trong những tháp sấy có vòi phun và dòng không khí nóng đi ngược chiều.
   Thay thế ure bawngfmelamin, sản phẩm ngưng tụ là nhựa melamin – formaldehit (hoặc melamin – ure – formaldehit nếu chỉ thay thế một phần). Keo melamin – formaldehit được dùng chủ yếu trong công nghiệp đồ gỗ, làm chất kết dính để ép cactông… So với keo ure – formaldehit, chúng có độ chịu nước cao hơn và tuổi thọ kéo dài hơn.
   Để biến tinh nhựa amin, làm chúng đàn hồi hơn, người ta phối hợp với latex cao su, latex metilmetacrilat, polivinilaxstat… và gọi là nhựa amino-latex. Thí dụ : nếu màng keo melamin – formaldehit đơn thuần có độ đàn hồi (kéo dãn) là 0 thì khi phối hợp với latex cao su với tỷ lệ 60 : 40 độ đàn hồi bằng 7. Dùng amon clorua (1% so với nhựa) thì keo có thể đóng rắn lạnh, nhưng nếu dùng axit oxalic (5%) sẽ được keo dóng rắn nóng.
   3.  Keo từ nhựa epoxi
   Trong khoảng 25 năm trở lại đây, nhựa epoxi hầu như đã trở thành cơ sở cho những loại keo lý tưởng. Giá thành cao của chúng đã được bù lại bằng những tính chất quý giá và được sử dụng rất rộng rãi để dán đồ sứ, kim loại,thủy tinh, chất dẻo và nhiều vật liệu khác, đáp ứng được yêu cầu của nhiều nghành công nghiệp khác nhau. Keo epoxi có nhiều ưu điểm :
   __ Nhờ những nhóm hdroxit và amin phân cực, màng keo epoxi có tính kết dính rất cao,  ngay cả với những bề mặt nhẵn của kim loại, thủy  tinh, gốm sứ, chất dẻo…
   __ Nhựa đã đóng rắn có độ bền xé rất cao, vì tính kết dính nội cao.
   __ Khi đóng rắn, không tách ra các sản phẩm phụ (nước, dung môi…) nên là loại keo rất thích hợp cho các bề mặt không có tính hấp thụ như kim loại, thủy tinh… mà không cần nén.
   __ Keo có độ co ngót rất nhỏ. Nếu đưa vào công thức pha chế các chất độn thì hầu như không co ngót nữa.
   __ Độ <rão> của keo rất nhỏ, bảo đảm được hình dạng khi chịu tải trọng lâu dài.
   __ Bền với độ ẩm và dung môi, khá chịu nhiệt, tính cách điện cao.
   __ Có thể điều chỉnh được tính năng trong phậm vi rộng bằng cách thêm chất độn, chất đóng rắn và các chất phụ gia biến tính.
   Nhựa epoxi là một polime mạch thẳng, như tên gọi trong phân tử chứa những nhóm epoxi (oxietilen), thu được do phản ứng đa tụ của một phenol lưỡng chức (điển hình nhất là diphenololpropan) với epiclohidrin.
   Trong mạch, ngoài liên kết CC, còn có cả những liên kết ete. Những nhóm hidroxit và epoxi sắp xếp dọc theo mạch với khoảng cách rất < lý tưởng> để các chất đóng rắn dễ dàng (khâu) các đại phân tử mạch thẳng để biến nựa thành nhiệt rắn, nhưng đồng thời cũng đủ xa nhau để nhựa đóng rắn có tính đàn hồi do sự < uyển chuyển> của các phân tử. Nhóm hdroxit của pheenol bị ete hóa khiến nhựa không mầu và không bị thay đổi mầ khi bảo quản.
   Nhựa poxi có thể điều chế như sau.
   Cho hỗn hợp diphenilolprpan và epiclohidrin vào thiết bị phản ứng, khuấy đều và đun nóng tới 600C trong 2 giờ rồi thêm dung dịch NaOH 50%. Tiếp tục đun 2 giờ nơax, sau đó rửa lượng kiềm dư và muối bằng nước, hòa tan trong toluen và lọc. Các loại nước và dung môi ở 110 – 1300C. Sản phẩm cuối cùng là nhựa nhớt mầu sẫm.
   Tùy thuộc vào tỷ lệ các chất ban ddaaauf, nhựa thu được có khối lượng phân tử 400 -4500 và trạng thái từ lỏng đến rắn.
   Phenol đa chức có thể thay thế bẳng resorsin, hidro-quinon, nhựa novolac, nhựa resol và epiclohidrin có thể thay thế bằng 1,3- diclohidrin của glixerin.
   Trên cơ sở nhựa epoxi người ta chế biến thành 2 loại keo keo đóng rắn lạnh và keo đóng rắn nóng, khác nhau về cơ chế đóng rắn, tính chất và kỹ thuật sở dụng.
   Keo đóng rắn lạnh dùng chất đóng rắn và các amin béo khác nhau thông dụng nhất là hexametilendiamin và pilietilenpoliamin.
   Bản chất của chất đóng rắn cũng như tỷ lệ của chúng có ảnh hưởng đến tính chất của keo. Trong thời gian sống (tời gian kể từ lúc pha trộn chất đóng rắn tới khi keo rắn lại) của keo dao động từ vài phút đến vài giờ tùy loại amin sử dụng. Sự có mặt của oxi không hề (can thiệp) vào quá trình đóng rắn.
   Keo đống rắn nóng có độ bền cao hơn, chịu nhiệt tốt hơn keo đóng rắn lạnh và có thể dùng để dán các kết cấu chịu lực bằng kim loại và vật liệu phi kim loại. Chất đóng rắn thường dùng là inhidrit của axit dicacboxilic, dixiandiamit, ure,diure… Xúc tác cho quá trình đóng rắn có thể là kiềm axit photphoric, muối nhôm, kẽm, chì… của axit hữu cơ và các chất khác.
   Cơ chế đóng rắn nóng khác với cơ chế đóng rắn lạnh của nhựa epoxi. Không phải nhóm epoxi như trong trường hợp trước mà những nhóm OH tham gia vào việc tạo nên những cầu nối ngang giữa những đại phân tử.
   Để tăng tốc phản ứng đóng rắn, ngoài nhiệt độ, người ta còn nhiều các amin bậc ba.
   Những loại keo này để dán nhôm, thép, thủy tinh hữu cơ, gốm, sứ, gỗ, chất dẻo. Nhiệt độ dán khoảng 1500C. Cũng có thể duy trì một tải trọng ép trên mối dán tới khi hoàn thành quá trình.
   Từ nhựa epoxi biến tính. Để tăng cường tính đàn hồi, tính chịu nhiệt và một số tính năng kỹ thuật khác, người ta biến tính nhựa epoxi bằng nhựa phenol formaldehit, poliamit, peclovinil và một số hợp chất cơ kim. Keo epoxi phenol được dùng dưới dạng màng dán ép, đơn giản quá trình dán,và được bán ra thị trường với những tên thương mại khác nhau. Phối hợp với polime cơ kim (thí dụ poliorganosilosan) sẽ thu được keo đóng rắn bằng diamin ở nhiệt độ cao, để dán kim loại và giữ nguyên được tính năng trong khoảng nhiệt độ từ 60 đến 1500C.
1.      Keo từ nhựa polime
   Nhựa polime là sản phẩm đa tụ giữa axit đa thức và nhựa đa thưacs nhưng để làm keo, người ta thường chú ý đến polieste không no và copolime của chúng với một số monome. Loại thông dụng nhất là polieste đi từ axit maleic và polietienglicol với các monome như stiren, vinilaxetat, mtilmetaerilst. Sự có mặt của các nhóm cacboxit vafhidroxit trên mạch phân tử làm nhựa có tính kết dính tốt.
   Keo polieste dược điều chế như sau:
   Tiến hành ngưng tụ anhidric maleic và glicol (tỷ lệ 1 : 1,2) trong thiết bị tráng men hoặc thép không rỉ ở nhiệt độ 180 - 2200C dưới bầu khí quyển khí trơ trong 2 đến 8 giờ.
   Để thu được keo đóng rắn nóng, trùng hơp sơ bộ stiren ở 1500C, sau đó thêm khối chất lỏng nhớt này vào nhừa nói trên.
   Để ngăn cản sự đóng rắn khi bảo quản có thể thêm 0,001 – 0,01% hidroquinon làm chất ổn định.
   Keo polieste được dùng để dán kim loại với thủy tinh, amian với đồng, chất dẻo cốt thủy tinh và nhiều vật liệu phi kim loại khác.
   5.   Keo từ nhựa poliuretan và polizoxianat
   Nhự polieretan tạo thành do phản ứng giữa izoxianat và các hợp chất polihidroxit, theo cơ chế bậc, với sự dịch chuyển nguyên tử H từ nhóm hidroxit sang nit[ của nhóm izoxianat.
   Những nhóm NHCO__ phân cực tạo nên tính kết dính của các loại nhựa này. Cần chú ý rằng người ta không dùng poliuretan làm keo, mà dùng ngay các monome ban đầu. sự tạo thành polime sẩy ra chính trong quá trình dán (tất nhiên có bổ sung chất độn). Keo poliu-retan gần như có tính kết dính vạn năng, có khả năng đóng rắn ở nhiệt độ thấp, bền nước, chịu lạnh và độ bền cơ học cao. Mối dán chịu được tải trọng lâu dài.
6.   Keo từ polime cơ kim
   Các hợp chất cơ kim là cơ sở của một số lớn loại keo, dùng để dán các vật liệu kim loại và phi kim loại, chịu nhiệt trong các kết cấu, làm việc thường xuyên ở 300 – 6000C và một thời gian ngắn ở 10000C hay hơn nữa. Phổ biến nhất trong số keo cơ kim keo cơ- silic. Khi trong mạch phân tử có xen lẫn những nguyên tử bo và titan, thì keo có tính kết dính rất cao và bền với sự phân hủy nhiệt.
   Để tăng tính kết dính và tính đàn hồi, người ta biến tính keo cơ kim bằng polivinilaxat-al, cao su, nhựa epoxi…, nhưng tính bền nhiệt của keo lại giảm.
 

(9/3/2013 10:36:48 AM)


Công ty cổ phần hóa chất công nghệ mới Việt Nam

© Copyright 2011 WebDesigner Group. All rights Reserves.